Ra giêng anh đưa tôi đi xem một cổ trấn ở ngoại ô Phụng Thành. Phố cổ lát đá phiến xanh, mặt nước in bóng những bức tường trắng ngói đen, khách du lịch thưa thớt, yên bình như một bức tranh thủy mặc.

Chúng tôi ngồi uống trà trên tầng hai của một quán trà ven sông, anh đột nhiên lấy từ trong túi xách ra một kẹp tài liệu trải lên bàn.

“Cái gì đây?” Tôi hỏi.

“Vài chỗ để em chọn.”

Anh lật ra, bên trong là thông tin của vài căn nhà. Một căn ở khu phố cổ trên con đường trồng toàn cây ngô đồng, một căn view nhìn ra sông, một căn nằm ngay trong cổ trấn này, trong sân còn có giàn nho. “Làm thiết kế thì lúc nào cũng phải có một nơi thuộc về riêng mình chứ. Em thích phong cách nào để anh đi sửa lại.”

“Thẩm Trục Dã, anh đang đi mua nhà hay đi mua xe thế hả? Có ai bắt người ta chọn nhà kiểu này không, tiện tay ném luôn ba tập hồ sơ bất động sản ra?”

“Chuyện mua nhà cũng phân biệt Bên A Bên B sao?” Anh nhướng mày, vẻ mặt chuẩn bài “Sếp Thẩm” thường ngày. Anh nói quá có lý, tôi không phản bác được.

“Anh mặc kệ mấy cái bề ngoài đó. Anh chỉ cần em chọn một căn em thích. Sau này em muốn sống ở một nơi như thế nào, anh sẽ biến nó thành thế ấy.”

Cuối cùng, chúng tôi chốt căn nhà nhỏ hai tầng có khoảng sân ở khu phố cổ, bởi anh nói nơi đó “Gần công ty em, cũng không xa công ty anh, cây ngô đồng rất đẹp, lá rụng mùa thu có thể rải kín cả một con đường”.

Cái ngày anh đưa tôi đi xem nhà, anh tựa lưng vào gốc cây ngô đồng già trong sân, tay cầm một bản phác thảo, trên đó là phương án cải tạo do chính tay anh vẽ: Sân sẽ lát sàn gỗ nhựa ngoài trời, góc Đông Nam trồng một cây quế, ban công tầng hai làm thành phòng kính (sunroom), mùa đông có thể vào đó uống cà phê đọc sách.

“Bản vẽ này anh vẽ lúc nào thế?” Tôi cầm bản vẽ, nét bút chì tuy hơi ngoệch ngoạc nhưng tỷ lệ và các đường luân chuyển được ghi chú rõ ràng rành mạch, nhìn qua là biết tay nghề của anh.

“Đêm công khai đó.” Anh nói, “Không ngủ được, nên dậy vẽ luôn.”

Tôi nhìn bản vẽ, ánh nắng xuyên qua kẽ lá ngô đồng chiếu xuống mặt giấy loang lổ, rơi trên bờ vai anh.

Lồng ngực căng tràn một thứ cảm giác không diễn tả thành lời, chua chua, mềm xèo.

“Thẩm Trục Dã.”

“Hử?”

“Nếu anh cải tạo xong căn nhà này, em muốn đóng một tấm biển gỗ nhỏ trên tường trước cửa.”

“Viết chữ gì?”

“Viết là, Tổ ấm của Ôn Hạ và Thẩm Trục Dã.”

Anh mỉm cười. Nụ cười ấy dưới ánh nắng mùa xuân trong trẻo y hệt như lần đầu chúng tôi gặp nhau hồi cấp ba, không, còn sáng hơn cả lúc đó nữa.

Vì ngày đó anh chưa từng cười như thế bao giờ. Một nụ cười bung nở không chút dè dặt, không vương chút bóng tối nào, là nhờ năm tháng của ngần ấy thời gian từng chút từng chút mài giũa ra.

Sau này căn nhà đó được sửa sang xong, trên tường trước cổng quả thực đã được đóng một tấm biển gỗ nhỏ.

Nhưng không phải là nét chữ của tôi.

Là đích thân Thẩm Trục Dã dùng dao khắc gỗ tỉ mỉ điêu khắc từng nét. Lúc khắc xong anh gọi tôi qua xem, tôi đứng trước cửa ngắm nghía hồi lâu, quay đầu lại nói: “Chữ anh cũng đẹp phết nhỉ.”

“Nói nhảm. Hồi cấp ba báo bảng toàn một tay anh lo mà.”

“Thế sao anh không viết thư tình cho em?”

“Viết rồi.” Anh lục từ ngăn kéo dưới cùng của tủ giày ở cửa ra một trang lưu bút tốt nghiệp mà anh từng thức trắng đêm sửa đi sửa lại.

Tờ giấy đã hơi ngả vàng, góc mép được vuốt phẳng phiu, cẩn thận. “Tương lai gấm vóc, ý là gì? Ý là tất cả những phong cảnh tươi đẹp nhất trên chặng đường phía trước của anh, đều có em một nửa. Chữ ‘Thẩm’ ở phần cuối cùng được khắc tới bốn lần, chắc chắn em nhìn thấy hằn sang cả mặt sau đúng không. Ngoài ra bức thư tình em viết năm mười bảy tuổi hiện giờ vẫn đang nằm trong ngăn kéo văn phòng anh đấy. Vậy là hòa nhé.”