Khi ấy ta còn trẻ —— không, với phàm nhân mà nói, ta đã già.

Nhưng với ta, đời ba ngàn năm, khi ấy mới qua một phần mười.

Ta gặp qua vô số người, cũng tiễn qua vô số người.

Nhưng chỉ có nàng, khiến ta cảm thấy ——

Thôi, khỏi nghĩ nữa.

Ta xoay người, định rời đi.

Sau lưng bỗng vang một giọng.

“Ngươi rốt cuộc cũng đến.”

Ta khựng lại.

Giọng ấy rất khẽ, rất mềm, như gió lướt qua lá trúc.

Ta quay người.

Họa vẫn là họa ấy, người vẫn là người ấy.

Nhưng người trong họa, động.

Nàng quay đầu, nhìn ta.

“Ta đợi ngươi ba trăm năm.”

Ta nhìn nàng.

“Ta biết.”

Nàng bước ra khỏi họa, từng bước một đi đến trước mặt ta.

Ánh trăng lọt qua mái ngói đổ nát, rơi lên mặt nàng.

Vẫn là gương mặt ấy, y hệt ba trăm năm trước, không sai một phân.

“Thẩm Vô Độ,” nàng gọi tên ta, “ngươi còn nhớ ta chăng?”

Ta nhìn vào mắt nàng.

“Nhớ.”

Nàng cười.

Nụ cười rất nhẹ, rất nhạt, như cánh mai rơi trên nền tuyết.

“Vậy cớ sao ngươi không đến thăm ta?”

Ta không nói.

Nàng chờ một lát, lại cất lời.

“Ngươi có biết không, ta ở đây chờ ba năm, ngươi không đến. Ta chết, biến thành bức họa này, lại làm quỷ đợi ba trăm năm, ngươi vẫn không đến.”

Giọng nàng bình thản, không oán, không hờn, như kể một chuyện chẳng can dự gì đến mình.

“Ta cứ ngỡ ngươi đã quên ta.”

“Chưa quên.” ta nói.

“Chưa quên, sao lại không đến?”

Ta nhìn mắt nàng.

Trong ấy chẳng có gì cả.

Không ánh, không nhiệt, không có bất cứ thứ gì thuộc về người sống.

Chỉ là một khoảng trống.

“Vì ta không biết phải nói gì.” ta nói.

Nàng khựng lại.

Rồi nàng cười.

Lần này nụ cười vẫn nhẹ, mà thoảng vị đắng.

“Ngươi vẫn như xưa.”

Ta im lặng.

Nàng bước đến, đứng trước mặt ta, rất gần.

Gần đến nỗi ta ngửi được hương mai nhàn nhạt trên người nàng, có như không.

“Thẩm Vô Độ,” nàng nói, “ngươi biết vì sao ta ở đây đợi ngươi chăng?”

“Vì sao?”

“Vì ta muốn hỏi ngươi một câu.”

“Hỏi.”

Nàng nhìn thẳng vào mắt ta.

“Ngươi từng yêu ta không?”

Ta trầm mặc.

Một hồi trầm mặc dài đến vô tận.

Dài đến mức trăng chui khỏi mây rồi lại ẩn vào mây.

Nàng vẫn nhìn ta, chờ lời đáp.

Cuối cùng, ta mở miệng.

“Ta không biết.”

Nàng ngẩn ra.

“Ngươi không biết?”

“Phải,” ta nói, “ta không biết.”

“Vì sao không biết?”

“Bởi vì ——” ta ngừng một nhịp, “ta không biết thế nào là yêu.”

Nàng nhìn ta, ánh mắt phức tạp.

Rất lâu sau, nàng khẽ thở dài.

“Ngươi vẫn là kẻ ngốc.”

Ta không nói.

Nàng đưa tay, vuốt nhẹ lên mặt ta.

Bàn tay nàng lạnh, lạnh như băng.

“Ba trăm năm rồi,” nàng nói, “ngươi không đổi chút nào.”

“Ngươi cũng chẳng đổi.”

Nàng cười.

“Ta là quỷ, đương nhiên không đổi.”

Ta nhìn nàng.

“Ngươi muốn ta giúp ngươi việc gì?”

Nàng lắc đầu.

“Ta không muốn ngươi giúp gì cả.”

“Vậy vì sao ngươi đợi ta?”

Nàng im lặng một lúc.

Rồi nàng nói: “Vì ta muốn gặp ngươi thêm một lần.”

Trong lòng ta khẽ động.

Nàng nói tiếp: “Lúc còn sống, ta không đợi được ngươi. Chết rồi, ta tưởng sẽ đợi được. Kết quả đợi ba năm, vẫn không đợi được.”

“Sau đó ta hóa quỷ, bị nhốt trong bức họa này, không ra được. Ta tưởng đời này chẳng còn gặp ngươi nữa.”

“Không ngờ, ba trăm năm sau, ngươi lại đến.”

Nàng cười nhạt.

“Vậy là đủ rồi.”

Ta nhìn vào mắt nàng.

Trong ấy rốt cuộc cũng có thêm một chút gì đó.

Là thỏa mãn, hay là buông bỏ?

Ta không biết.

Nàng thu tay, lùi một bước.

“Thẩm Vô Độ, ngươi đi đi.”

Ta không nhúc nhích.

“Đi đi,” nàng nói, “ngươi chẳng phải còn có việc phải làm sao?”

“Việc gì?”

“Tân hoàng đế ấy,” nàng nói, “hắn cần ngươi.”

Ta nhìn nàng.

“Sao ngươi biết?”

Nàng cười.

“Ta là quỷ, thấy được nhiều thứ người sống không thấy.”

Nàng ngừng một nhịp, chỉ ra ngoài.

“Tiểu hoàng đế kia, mệnh chẳng dài.”

Trong lòng ta chấn động.

“Là ý gì?”

“Mệnh cách hắn,” nàng nói, “đại hung. Trong ba năm, tất có một kiếp. Vượt qua được, sống thêm mấy chục năm. Vượt không qua, chết.”

Ta trầm mặc.

Nàng nhìn ta.

“Ngươi cứu hắn chăng?”

Ta không đáp.

Nàng lại hỏi.

“Ngươi cứu hắn chăng?”

Ta nhìn nàng.

“Ngươi muốn ta cứu hắn chăng?”

Nàng khựng lại.

Rồi nàng cười.

“Thẩm Vô Độ, ngươi vẫn ngốc như vậy.”

“Là sao?”

“Ngươi muốn ta nói gì?” nàng nói, “bảo ‘đừng cứu hắn, ở lại bầu bạn với ta’? Bảo ‘ngươi là của ta, không được lo chuyện người’?”

“Ta là quỷ,” nàng nói, “hắn là người. Ta lấy tư cách gì mà tranh với hắn?”

Ta không nói.

Nàng bước đến, lại đứng trước mặt ta.

Lần này, nàng nhón chân, khẽ hôn lên trán ta.

Môi nàng lạnh, lạnh như tuyết đầu đông.

“Đi đi,” nàng nói, “cứu hắn.”

Ta nhìn nàng.

Trong mắt nàng có ánh nước, nhưng không rơi xuống.

“Vì sao?” ta hỏi.

“Bởi vì ——” nàng ngừng một nhịp, “nếu hắn chết, ngươi sẽ buồn.”

Ta sững người.

Nàng mỉm cười, lùi một bước.

“Ta biết ngươi. Miệng thì bảo không yêu, không hiểu, kỳ thực lòng mềm lắm. Ai đối tốt với ngươi một chút, ngươi liền ghi trong tim. Ai gặp nạn, ngươi lại không nhịn được muốn giúp.”

“Tiểu hoàng đế kia, ban đầu muốn giết ngươi, nhưng về sau lại cho ngươi ăn mì, còn ngồi đối diện ăn cùng.”

“Ngươi tưởng ta không biết ư? Ta nhìn thấy.”

Ta trầm mặc.

Nàng tiếp lời.

“Thẩm Vô Độ, sống lâu như vậy, ngươi học được rất nhiều thứ. Nhưng có một thứ, ngươi mãi chưa học được.”

“Thứ gì?”

“Ngươi chưa học được, làm sao đối với chính mình tốt hơn một chút.”

Nàng lùi một bước, rồi lại lùi một bước.

Lùi đến bên khung họa.

“Đi đi,” nàng nói, “đừng quay lại nữa.”

Ta nhìn vào mắt nàng.

“Ngươi tên gì?”