Nàng ta nhấp một ngụm nước, đứng dậy toan về. Đến bậc cửa bỗng ngoái đầu nhìn ta:
“Cả đời này của ngươi, đại khái cũng chỉ đến thế mà thôi.”
Nói đoạn liền rảo bước rời đi. Dấu chân phía sau nàng ta giẫm trên nền tuyết, từng bước từng bước lún sâu thành từng hố nhỏ. Cung nữ giương dù đi bên cạnh, trên mặt dù thêu kim tuyến lấp lánh, đúng theo quy chế của bậc Quý phi.
Ta khép cửa lại, thu dọn chén nước. Ngồi xuống chiếc ghế duy nhất kia, nhìn chăm chú vào ngọn đèn dầu. Lời Hàn thị nói chẳng sai, một đời này của ta có lẽ cũng chỉ đến thế thật.
Thế nhưng nàng ta nào hay biết, đứa trẻ nơi Bắc viện kia nay đã lớn lên mười hai tuổi. Nó có thể đọc thuộc lòng cả bộ Tả Truyện, viết được một tay chữ khải đoan chính vững vàng. Mỗi chiều hoàng hôn, nó đều đứng tấn giữa sân, dùng một cành cây nhặt được mà luyện những chiêu thức do chính mình tự mày mò. Lão ma ma bảo nó nửa đêm vẫn chong đèn đọc sách, tốn không biết bao nhiêu dầu đèn.
Ta mang sang cho nó thêm hai sợi bấc đèn.
06
Năm Thừa Bình thứ mười bảy, Trung cung lần đầu tiên đổi chủ.
Chu hoàng hậu ngã bệnh ba năm, dây dưa đến mùa thu năm ấy thì tạ thế. Tang lễ chu toàn xong xuôi, ngôi vị Trung cung bỏ trống. Bầu không khí trong cung tức thì đổi khác, ai nấy đều thầm đoán xem ai sẽ là người ngự lên chiếc ghế phượng kia.
Hàn thị là người có thanh thế cao nhất. Nàng ta làm Quý phi suốt năm năm, cung vụ sắp xếp đâu ra đấy, lại chưa từng phạm phải sai lầm lớn nào, luận tư lịch luận phẩm trật đều đứng hàng đầu. Khoảng thời gian ấy, nàng ta đi đứng đắc ý, lúc thỉnh an ngự ngay chính giữa, cách bảo tọa Hoàng hậu chỉ đúng một bước chân.
Thế nhưng tiên đế không chọn nàng ta.
Tân hoàng hậu họ Mạnh, là người mới vừa nhập cung trong đợt tuyển tú năm ấy, mới mười chín tuổi, chẳng có chút tư lịch nào.
Ngày thánh chỉ ban xuống, cả hậu cung đều ngỡ ngàng chết lặng. Mặt Hàn thị chuyển từ đỏ sang trắng rồi lại sang xanh mét, nghe đâu ngay đêm hôm đó đã đập vỡ nát cả một bộ trà cụ.
Tháng đầu tiên Mạnh hoàng hậu thượng vị, Hàn thị cáo bệnh không tới thỉnh an. Tháng thứ hai miễn cưỡng tới, ngồi trên chiếc ghế kia im thin thít không hé nửa lời. Sang tháng thứ ba, bắt đầu xảy ra va chạm xích mích với người bên cạnh Mạnh hoàng hậu, năm bữa nửa tháng lại sinh chuyện thị phi.
Ta vẫn như lệ cũ đứng chầu nơi hành lang. Từ vị trí này nhìn vào, cục diện trong điện quả thực đã đổi thay. Mạnh hoàng hậu còn rất trẻ, ngồi nơi thượng thủ dáng vẻ hãy còn đôi phần câu nệ lúng túng. Hàn thị ngồi ở vị trí đầu tiên bên tả, ánh mắt chốc chốc lại quét qua, ánh mắt ấy ta quá đỗi quen thuộc. Hệt như năm xưa tại yến thưởng hoa nhìn ta, đầy vẻ toan tính, cân đo đong đếm.
Năm Thừa Bình thứ mười chín, Mạnh hoàng hậu xảy ra chuyện. Có kẻ lật lại chuyện cũ trước khi nhập cung của nàng ta, tố cáo gia đình nàng ta từng dính dáng tới án mạng, phụ thân nàng ta năm xưa ở dưới quê từng lỡ tay đánh chết một tá điền. Chuyện này ầm ĩ đến tận ngự tiền. Tiên đế đương lúc đau ốm, chẳng còn tâm trí tra xét ngọn ngành tường tận, liền trực tiếp hạ chỉ phế hậu.
Ngày Mạnh hoàng hậu rời cung, ta vừa khéo đang trên đường sang Bắc viện. Từ đằng xa thấy một cỗ kiệu mộc đơn sơ từ hướng chính điện khiêng ra, rèm kiệu buông thấp trĩu, chẳng thể nhìn thấy dung nhan người bên trong. Mấy tên thái giám khiêng kiệu rảo bước thật nhanh, như sợ bị ai bắt gặp. Cỗ kiệu rẽ qua góc tường cung, trong chốc lát đã mất hút tăm hơi.
Vị Hoàng hậu thứ hai tại vị chưa đầy hai năm.
Hàn thị rốt cuộc vẫn chẳng thể ngồi lên chiếc ghế ấy. Vị Hoàng hậu thứ ba họ Lục, là cháu gái họ xa của Thái hậu. Lục hoàng hậu thông minh hơn Hàn thị, vừa bước chân vào cung đã chủ động lấy lòng Hàn thị, đưa tặng vô số đồ vật sang. Hàn thị nhận lễ vật, ngoài mặt giữ vẻ thuận hòa, nhưng ngấm ngầm bên dưới chưa từng ngơi nghỉ. Nàng ta sai người bí mật điều tra gốc gác Lục hoàng hậu, điều tra suốt nửa năm ròng chẳng moi ra được điều chi.
Thế nhưng chính Lục hoàng hậu lại tự mình chuốc vạ. Nàng ta chọn phe đứng về phía Tam hoàng tử, Tam hoàng tử mưu sự bất cẩn bị tiên đế phát giác, Lục hoàng hậu vì thế mà vạ lây. Ý chỉ phế hậu ban xuống, Lục hoàng hậu khóc ròng suốt một đêm trắng trong Phượng Nghi cung.
Trong vòng mười lăm năm, tấm biển Phượng Nghi cung đã ba lần đổi chủ. Tấm biển ấy, mỗi bận thỉnh an ta đều ngước nhìn thấy. Ba nữ nhân khác nhau từng ngự trên chiếc ghế quyền uy ấy, rồi lại ba nữ nhân khác nhau bị lôi tuột từ trên chiếc ghế ấy xuống.
Hàn thị lần nào cũng đinh ninh phen tới ắt sẽ đến lượt mình. Nhưng lần nào cũng chẳng tới lượt nàng ta.
Năm Thừa Bình thứ hai mươi, Hàn thị lại tới Vĩnh An các. Lần này nàng ta ngồi kiệu tới, nhưng kiệu đỗ ngoài cổng viện, bước chân nàng ta bước vào chậm hơn trước rất nhiều. Nàng ta đã già rồi. Hai bên thái dương đã lốm đốm sợi bạc, nếp nhăn nơi khóe mắt chẳng thể nào che giấu nổi.
Ngồi xuống chiếc ghế gỗ kia, nàng ta buông tiếng thở dài:
“Trầm thị, ngươi bảo chốn thâm cung này, thứ gì làm hao tổn tâm can con người ta nhất?”
Ta rót nước cho nàng ta:
“Chẳng phải là tranh, mà là đợi.”
Nàng ta nâng chén nước nhấp một ngụm:
“Ta đợi mười bảy năm ròng, rốt cuộc chẳng đợi được thứ gì. Còn ngươi, ngươi đợi cái chi?”
Ta đáp ta chẳng đợi điều chi cả. Nàng ta nhìn ta trân trân một hồi, bỗng nhiên bật cười. Nụ cười mang theo một hàm ý khó tả:
“Ngươi chẳng đợi điều chi, nên ngươi chẳng sốt ruột. Chẳng sốt ruột nên chẳng sợ hãi. Chẳng sợ hãi nên mới sống được lâu.”
Nàng ta đặt chén nước xuống rồi đứng dậy. Ra đến cửa, nàng ta không ngoái đầu lại:
“Nếu năm xưa ta cũng biết thu mình an phận như ngươi, có lẽ bây giờ cũng chẳng đến nỗi mệt mỏi nhường này.”
Cỗ kiệu nâng nàng ta rời đi, trong sân chỉ còn trơ trọi hai hàng dấu chân phu kiệu.
Đêm hôm đó, ta sang Bắc viện. Tiêu Hằng nay đã mười tám tuổi, vóc người cao hơn ta trọn vẹn một cái đầu. Nó đang ngồi trong phòng đọc sách, trên bàn bày la liệt một chồng sách sử chẳng biết kiếm từ đâu ra. Thấy ta bước vào, nó liền buông sách xuống:
“Trầm di, tin tức trong cung con cũng nghe phong phanh được đôi phần. Vị Hoàng hậu thứ ba cũng đã phế rồi.”
Ta khẽ ừ một tiếng, đặt thức ăn mang theo lên mặt bàn. Nó không vội cầm lấy, cứ ngồi yên lặng nhìn ta:
“Người ở trong chốn cung cấm này hai mươi năm rồi. Hai mươi năm ròng chỉ là một Tuyển thị, thật chẳng đáng chút nào.”
Ta bảo đáng hay không đáng, đời người vốn chẳng thể tính toán theo cách ấy.
Nó trầm mặc một hồi lâu:
“Sẽ có một ngày, con nhất định đón người rời khỏi Vĩnh An các.”
Ta không đáp lời. Sắp xếp chén bát xong xuôi, ta xoay người rời bước.
Đường về ánh trăng sáng vằng vặc. Bóng tường cung đổ dài ngoằng trên nền đá. Về tới trước cửa Vĩnh An các, ngọn đèn dầu kia xuyên qua lỗ rách trên giấy dán cửa sổ hắt ra chút ánh sáng le lói.
Hai mươi năm rồi, vẫn chỉ le lói ngần ấy mà thôi.

