Một ngày nọ, Triệu thái giám tới đưa đồ, tiện thể mang tới một lời nhắn:
“Người của Hàn quý phi đã tới thư viện dò la tin tức về Tứ hoàng tử rồi.”
“Dò la điều chi?”
“Dò la xem Tứ hoàng tử hai năm qua đã tiếp kiến những ai, đọc những sách gì, bên cạnh có mưu sĩ nào đắc lực chăng.”
Tim ta khẽ thót lại một nhịp. Triệu thái giám nói tiếp:
“Hàn quý phi còn sai người điều tra một chuyện nữa. Tra xem thuở Tứ hoàng tử còn ở trong cung, rốt cuộc có những ai từng lui tới Bắc viện.”
Ta nín thinh không đáp. Triệu thái giám liếc nhìn ta một cái, đặt đồ lên bàn rồi vội vã rời đi.
Đêm hôm đó, ta không tài nào chợp mắt. Ngồi bên mép giường, trước mặt đặt gói thuốc bột kia. Ba năm trước ta từng lấy nó ra xem rồi lại cất vào. Lần này, ta không cất lại nữa.
Ta trằn trọc nghĩ suốt một đêm trắng. Hàn thị tra xét chuyện Bắc viện, tra đi tính lại ắt sẽ lần ra đầu mối là ta. Một tên tuyển thị mạt đẳng, hai mươi năm không tranh không đoạt, sau lưng lại lén lút qua lại với con trai của phế phi suốt mười lăm năm trời. Chuyện này đặt vào ngày thường thì chẳng đáng là bao, nhưng đặt vào thời khắc then chốt tranh đoạt trữ vị này, ắt sẽ biến thành nhược điểm tày đình. Hàn thị sẽ dùng nhược điểm này ra sao ta không rõ, nhưng nàng ta nhất định sẽ dùng. Hạng người như nàng ta chưa từng bỏ qua bất kỳ quân bài nào có thể đánh ra.
Sáng sớm hôm sau, ta hòa gói thuốc bột vào nước rồi uống cạn. Dược lực phát tác rất nhanh. Nửa canh giờ sau, mặt ta bắt đầu vàng vọt, tứ chi bải hoải, mồ hôi lạnh ướt đẫm sau lưng. Ta nằm bẹp trên giường, đắp hai tầng chăn, cài chặt then cửa từ bên trong.
Buổi chiều Phương ma ma tới đưa phần lệ, gõ cửa hồi lâu. Ta gượng kéo lê thân xác tàn tạ ra mở cửa, cửa vừa mở bà ta đã vội lùi lại một bước:
“Trầm tuyển thị, sắc mặt người làm sao thế này?”
“Bệnh rồi, không gượng dậy nổi.”
Phương ma ma cau mày bước vào liếc nhìn một cái, mùi thuốc nồng nặc trong phòng xông lên khiến bà ta phải bịt mũi:
“Có cần thỉnh thái y chăng?”
“Không cần đâu, tật cũ tái phát thôi, nằm nghỉ vài hôm là khỏi.”
Phương ma ma nửa tin nửa ngờ rời đi.
Tin tức lan truyền rất nhanh. Phía Hàn thị chẳng mấy chốc đã hay tin Tuyển thị ở Vĩnh An các ngã bệnh liệt giường. Nàng ta sai một cung nữ tới thám thính, vừa vào cửa đã ngửi thấy mùi thuốc đắng nghét nồng nặc, nhìn qua gương mặt vàng như nghệ của ta. Trở về ắt đã bẩm báo lại với Hàn thị.
Về sau, khi người của Hàn thị tra xét chuyện cũ ở Bắc viện, lật tới tên của ta, Phương ma ma liền bồi thêm một câu:
“Trầm tuyển thị bệnh nặng lắm rồi, sợ là chẳng qua nổi mùa đông này đâu. Một kẻ sắp chết đến nơi, làm sao mà toan tính điều chi được.”
Hàn thị tin lời.
Ta nằm liệt trên giường trọn vẹn một tháng trời. Dược tính của gói thuốc kia chỉ khiến sắc mặt vàng vọt, cơ thể suy nhược, nhưng tuyệt đối không tổn hại đến căn bản. Năm xưa phụ thân giao gói thuốc này cho ta từng căn dặn: uống vào trong vòng nửa tháng trông giống hệt như mắc trọng bệnh, sau một tháng dược lực mới từ từ tiêu tán. Ta phải nắm bắt cho thật chuẩn xác thời gian.
Suốt một tháng nằm liệt giường ấy, phong vân biến ảo ngoài kia ta chỉ có thể chắp vá qua những tin tức vụn vặt do Triệu thái giám lén đem tới. Tiên đế lúc tỉnh lúc mê, thời khắc thanh tỉnh ngày một thưa thớt. Chuyện Hàn thị toan phò tá Nhị hoàng tử bị người ta tố giác lên ngự tiền, tiên đế nổi trận lôi đình, triệu Hàn thị tới mắng cho một trận vuốt mặt không kịp. Hàn thị trở về đóng chặt cửa suốt ba ngày, chẳng buồn tiếp kiến bất kỳ ai.
Lại có một tin tức liên quan tới Tiêu Hằng. Phía thư viện truyền tin về, bảo rằng văn chương của Tứ hoàng tử được một vị lão học sĩ đã trí sĩ xem qua, khen ngợi bằng tám chữ: “Tâm chính bút đoan, khả kham đại nhiệm” (Lòng ngay bút thẳng, gánh vác việc lớn). Lời ấy chẳng hiểu sao lại truyền tới tận tai tiên đế trong cung.
Nghe xong tin ấy, ta kéo chăn lên cao một chút, rồi khẽ khép mắt lại.
Một tháng sau, sắc diện của ta dần dà hồi phục. Từ vàng vọt chuyển sang trắng bệch, rồi từ trắng bệch trở lại hồng hào bình thường, trước sau lại mất thêm nửa tháng nữa. Đợi đến khi ta có thể xuống giường bước ra ngoài cửa, trời đã sang xuân.
Ba ngày sau khi lập xuân, tiên đế băng hà.
09
Tiên đế tạ thế vào ngày mười chín tháng Hai năm Thừa Bình thứ hai mươi ba. Tang chung từ phía tẩm điện vang vọng lại, từng hồi từng hồi liên tiếp. Toàn thể người trong cung đều quỳ rạp xuống đất. Ta quỳ giữa sân Vĩnh An các, đầu gối đập vào nền đá lạnh buốt. Tiếng chuông gõ đủ chín chín tám mốt tiếng, gõ dứt thì trời cũng vừa sập tối.
Hôm sau tuyên đọc di chiếu. Toàn bộ phi tần tề tựu đông đủ trên quảng trường trước Phượng Nghi cung, đứng theo phẩm trật. Ta đứng ở hàng ngũ cuối cùng. Phía trước người đông nghìn nghịt đen ngòm, chẳng thể nhìn thấy điều chi, chỉ nghe văng vẳng thanh âm của tuyên chỉ thái giám phía trước truyền lại.
Di chiếu của tiên đế rất dài, đoạn đầu luận bàn việc nước, mấy câu sau cùng mới đề cập tới người kế vị. Lúc tuyên chỉ thái giám xướng lên bốn chữ: “Hoàng tứ tử Tiêu Hằng”, thanh âm vang vọng một vòng khắp quảng trường.
Hàng trước lập tức xôn xao náo loạn. Nhiều người cùng lúc bật ra tiếng thở dốc, kẻ hít sâu, người kinh hô nghẹn ngào. Ta nghe thấy một âm thanh quen thuộc, tựa như có vật gì đó rơi vỡ toang trên mặt đất. Mãi sau mới hay chính là Hàn thị ngã quỵ xuống, đầu gối đập mạnh vào bậc đá, làm chiếc ngọc hoàn đeo bên mình vỡ đôi làm hai mảnh.
Tiêu Hằng, đứa trẻ từ thuở ấu thơ chẳng ai thèm ngó ngàng đoái hoài ấy. Nay sắp sửa làm Hoàng đế.
Quảng trường quỳ hơn hai trăm con người, chẳng một ai để mắt tới kẻ đứng tận hàng cuối cùng là ta. Ta quỳ nơi ấy, đầu gối đã tê dại mất hết cảm giác. Trong đầu xẹt qua muôn vàn ý nghĩ, rốt cuộc chỉ đọng lại một điều duy nhất.
Đến lúc phải thu dọn tay nải rồi.
Theo quy củ, sau khi tiên đế băng hà, phi tần hậu cung chia làm hai ngả mà đi. Kẻ có con nối dõi thì được lưu lại trong cung, do tân đế phụng dưỡng. Kẻ không con thì nhất loạt dời tới hành cung ngoài thành, mang tiếng là dưỡng già, nhưng thực chất là mòn mỏi chờ chết nơi đất khách.
Ta không con, không tước vị, đến một chân Quý nhân còn chẳng với tới. Hành cung là nơi chốn duy nhất dành cho ta.
Trở về Vĩnh An các, ta bắt đầu thu xếp hành trang. Gia sản tích cóp suốt hai mươi năm trời ít ỏi đến đáng thương. Gói ghém trong hai chiếc tay nải là vừa vặn. Một chiếc đựng y phục, chiếc kia đựng mấy cuốn sách cũ và ngọn đèn dầu kia. Ngọn đèn dầu chẳng đáng giá một đồng, chân đế bằng đồng đã mục rỉ thủng một lỗ, bấc đèn đã thay không biết bao nhiêu bận. Nhưng ta vẫn muốn mang theo. Hai mươi năm qua chỉ biết nương tựa vào duy nhất ngọn đèn này. Đêm hôm tăm tối chẳng thấy rõ lối đi, luôn có nó kề bên.

