Phương ma ma tới giúp ta chuyển đồ. Lão thân còng lưng xách đỡ một chiếc tay nải. Đi tới bậc cửa, bỗng nhiên bà ta dừng bước, bờ vai run rẩy mấy hồi:

“Trầm tuyển thị, người ở nơi này suốt hai mươi năm ròng rồi. Nô tỳ làm việc ở Nội vụ phủ hai mươi lăm năm trời, đây là lần đầu tiên thấy một vị chủ tử ở lì trong một gian phòng lâu đến nhường ấy.”

Ta bảo ở quen rồi, chẳng khác nào nhà mình. Bà ta nghiêng đầu gạt vội giọt nước mắt:

“Tới hành cung hãy ráng mà tẩm bổ thân thể, phần lệ nơi hành cung dẫu có đạm bạc, nhưng dẫu sao vẫn còn khấm khá hơn chốn Vĩnh An các này.”

Ta xách chiếc tay nải còn lại, sải bước ra phía cửa.

Vừa bước qua ngạch cửa, lối đi đã bị chặn đứng. Bên ngoài cổng viện Vĩnh An các có một đội cấm quân đương đứng chực sẵn. Áo giáp dưới ánh mặt trời ánh lên sắc lạnh buốt giá, mũi thương chĩa thẳng lên trời, xếp thành hai hàng chỉnh tề. Giữa hai hàng cấm quân sừng sững một bóng người. Vóc dáng rất cao lớn, vận một bộ tang phục màu trắng tinh khôi.

Tiêu Hằng đứng sừng sững trước cửa Vĩnh An các, ánh mắt nhìn trân trân vào chiếc tay nải trên tay ta:

“Mẫu phi định đi đâu?”

Đây là lần đầu tiên người cất tiếng gọi ta như thế. Hai mươi năm rồi, ở Bắc viện người gọi ta là Trầm di. Trong thư từ, người gọi ta là Trầm di. Chưa từng một lần gọi ta là mẫu phi.

Ta đứng trên ngạch cửa, người đứng dưới ngạch cửa. Tay ta siết chặt dải buộc của chiếc tay nải, ngọn đèn dầu bên trong cấn vào mu bàn tay ta đau nhói:

“Hành cung. Thần thiếp nên tới hành cung thôi.”

Người không nhúc nhích. Ánh mắt từ gương mặt ta dời xuống chiếc tay nải trong tay, rồi lại quét qua gian Vĩnh An các phía sau lưng ta. Căn nhà rách nát, cánh cửa sổ lộng gió, chiếc bàn gãy mất một chân phải kê tạm bằng viên gạch.

“Năm xưa người giả bệnh cứu trẫm, nay còn toan giả ngây giả ngô đến bao giờ?”

Chiếc tay nải trong tay Phương ma ma rơi bịch xuống nền đất.

Ta nín thinh không đáp. Ta đương thầm nghĩ, làm sao người có thể hay biết được chuyện ấy? Đêm hôm đó ta uống thuốc giả bệnh nằm trên giường, thị vệ lùng soát chửi một câu xui xẻo rồi bỏ đi. Chẳng một ai thấy bóng dáng người trốn trong gian củi. Cũng chẳng ai hay biết về bát cháo năm nào, những cuốn sách cũ kia, cùng mười lăm năm trời đằng đẵng.

Người biết. Người biết hết thảy mọi điều.

10

Tiêu Hằng đứng ngoài cửa, không có ý định bước vào trong. Cấm quân phía sau lưng xếp thành hai hàng thẳng tắp, ánh nắng phản chiếu trên mũi thương làm mắt ta cay xè. Phương ma ma quỳ rạp dưới đất, trán dán chặt vào nền đá, toàn thân run rẩy như chiếc lá rụng trước gió mùa.

Ta đặt chiếc tay nải xuống:

“Chuyện Bệ hạ vừa nói, thần thiếp thực chẳng hiểu chi.”

Tiêu Hằng nhìn ta trân trân, không vội tiếp lời. Khoảng lặng như ngưng đọng giữa sân Vĩnh An các. Cây hòe khô héo nửa thân dưới hành lang bị gió thổi kêu kẽo kẹt.

“Trầm di.”

Tiêu Hằng đổi cách xưng hô. Thanh âm hạ thật thấp, thấp đến mức chỉ vừa đủ cho ba bước chân cách biệt giữa hai người nghe thấy:

“Đêm ngày mười hai tháng Tám năm Thừa Bình thứ sáu, người uống gói thuốc bột do phụ thân người để lại, giả bệnh suốt một tháng ròng. Đêm ấy thị vệ lùng soát đạp tung cửa Vĩnh An các, ngửi thấy mùi thuốc nồng nặc khắp phòng, thấy người sắc diện vàng vọt nằm liệt trên giường. Bọn chúng đã không lục soát gian chứa củi.”

Hai tay ta buông thõng bên sườn, bất động.

“Chuyện gói thuốc bột ấy, phụ thân người đã trao cho người trước lúc nhập cung. Con đã tra xét suốt mười năm trời. Tìm được hồ sơ cũ năm xưa phụ thân người làm việc nơi nha môn, bên trong có một phương thuốc do ông nhờ một du phương lang trung bốc cho. Uống vào sắc mặt vàng vọt, tứ chi bải hoải, nửa tháng trông giống hệt trọng bệnh, sau một tháng dược lực tự tiêu. Tuyệt không tổn hại tới căn bản.”

Người đem từng chi tiết rành rọt nói ra. Ngay cả lai lịch của phương thuốc kia cũng đã tra rõ ngọn ngành.

“Thần thiếp thuở ấy quả thực bị bệnh, nhập cung bao năm thể trạng suy vi, cứ đến mùa đông là lại phát tác.”

Tiêu Hằng không phản bác, chỉ đứng đó nhìn ta hồi lâu:

“Thế còn bát cháo kia thì sao? Mùa thu năm Thừa Bình thứ năm, Trịnh thị mang tội, Tứ hoàng tử bị đày tới Bắc viện. Cả hoàng cung chẳng một ai đoái hoài, chỉ có duy nhất Trầm tuyển thị của Vĩnh An các bưng một bát cháo sang. Chuyện này, cũng là do thể trạng suy vi sao?”

Ta mấp máy môi, chẳng tìm ra được lời lẽ nào thích hợp để phân bua. Tiêu Hằng rút từ trong tay áo ra một vật. Một phong giấy, gấp lại vuông vức đoan chỉnh, hệt như những phong thư gửi nhờ Triệu thái giám chuyển vào mỗi tháng. Người mở phong giấy ra, trên đó chỉ đề vỏn vẹn một hàng chữ:

“Con đã tra xét kỹ càng rồi, đêm ngày mười hai tháng Tám năm Thừa Bình thứ sáu ấy, then cài cửa gian củi được chốt từ bên ngoài. Gian củi ở Bắc viện vốn dĩ không có then cài. Là người đã tháo một chiếc then cài từ Vĩnh An các mang sang đóng lên cánh cửa ấy.”

Chuyện này, ta ngỡ cả đời chẳng ai hay biết. Chiều hôm đó ta chạy sang Bắc viện, phát hiện cánh cửa gian củi căn bản chẳng thể khép chặt. Một cánh cửa gỗ rách nát, đến cái chốt cũng không có. Ta quay về Vĩnh An các gỡ chiếc then cài cửa dự phòng trong phòng mình, đem sang đóng chặt lên cửa gian củi. Đêm đó cung biến xảy ra, Tiêu Hằng trốn vào gian củi, cài chặt chiếc then ấy từ bên trong. Thị vệ lùng soát tới Bắc viện đẩy cửa gian củi thấy không mở được, ngỡ là gian phòng phế tích đã bị đóng đinh phong kín từ trước, liền bỏ qua. Chiếc then cài ấy đã cứu mạng người.

Ta đứng trên bậc cửa, nhìn hàng chữ trên trang giấy trong tay Tiêu Hằng. Ánh mặt trời soi thấu mặt giấy, có thể nhìn thấy vệt mực loang lổ mờ mờ ở mặt sau.

“Thần thiếp chỉ thấy cánh cửa kia khép không chặt, thuận tay sửa sang lại đôi chút mà thôi.”

Người gấp tờ giấy lại, cất vào trong tay áo. Thần sắc trên gương mặt Tiêu Hằng lúc này ta nhìn không thấu. Tựa như đôi mắt thuở ấu thơ, thứ gì cũng giấu kín vào trong, chẳng để lộ ra ngoài:

“Thuận tay bưng cháo, thuận tay sửa cửa, thuận tay giả bệnh. Trầm di đã ‘thuận tay’ suốt hai mươi năm ròng.”

Ta không biện bạch thêm nữa.