Sau khi nương bình phục hẳn, họ bắt đầu bàn tính một chuyện khác: Thành thân.
Hóa ra sáu năm trước hai người suýt chút nữa đã kết bái phu thê, sau vì biến cố Thiên Hư nên hôn sự mới dở dang. Giờ đây cả Thiên Diễn Tông đều thấy nên bù đắp cho họ một hôn lễ long trọng.
Chỉ có Tạ Vô Trần là vờ làm ra vẻ bình thản: “Tùy nàng.”
Nương cũng tỏ vẻ dửng dưng: “Tính sau đi.”
Thế mà đêm hôm đó ta tận mắt thấy Tạ Vô Trần ở trong phòng thử liền bảy bộ hỷ phục, còn nương thì lén vẽ tới mười hai kiểu mũ phượng. Người lớn thật kỳ cục, muốn thành thân sao không nói thẳng ra chứ?
Cuối cùng vẫn là ta ra tay quyết định giúp họ.
Sáng hôm sau, ta chạy thẳng vào đại điện Nghị Sự, dõng dạc tuyên bố trước mặt hơn ba mươi vị trưởng lão: “Tháng sau, cha ta và nương ta thành thân!”
Tạ Vô Trần phun ngụm trà ra ngoài, tai nương đỏ ửng lên, còn thái thượng trưởng lão là người đầu tiên vỗ bàn cái rầm: “Được lắm!”
Hôm sau, chín mươi chín ngọn núi bắt đầu treo lụa đỏ. Tạ Vô Trần cho đến tận ngày bái đường vẫn luôn mồm phân bua: “Không phải ta nóng vội đâu, là do Tuế Tuế cứ nhất quyết đòi tổ chức đấy.”
Ai nấy đều gật gù: “Vâng vâng vâng.” Nhưng chẳng một ai tin ông ấy cả.
Ngày đại hôn, chín mươi chín ngọn núi thắp sáng đèn trường minh rực rỡ, mười vạn đệ tử ngự kiếm thành trận, xếp hàng dài từ sơn môn dẫn thẳng lên đỉnh núi chính.
Nương khoác trên mình bộ hỷ phục đỏ thắm, ta bước đi bên cạnh người. Lúc sắp bước vào đại điện, nương chợt dừng bước: “Tuế Tuế.”
“Dạ?”
“Nửa năm qua con có vui không?”
Ta gật đầu: “Vui lắm ạ.”
“Có thích nơi này không?”
“Thích ạ.”
“Có thích cha con không?”
Ta ngẫm nghĩ một chốc. Tạ Vô Trần đứng cách đó không xa, ngoài mặt làm bộ như chẳng bận tâm, nhưng vành tai rõ ràng đã giật giật lắng nghe.
Ta cố ý bảo: “Bình thường thôi ạ.”
Sắc mặt Tạ Vô Trần lập tức tối sầm lại, nương cười nghiêng ngả suýt không đứng vững. Ta vội vàng nói thêm: “Con lừa đấy, con cực kỳ thích cha!” Lúc này nét mặt Tạ Vô Trần mới giãn ra.
Nương xoa má ta: “Vậy thì tốt rồi.”
Ta nhìn nương, chợt hiểu ra vì sao ngày ấy nương nhất quyết đuổi ta rời trấn Đào Hoa. Nương không phải bỏ rơi ta, cũng chẳng phải muốn ném gánh nặng cho Tạ Vô Trần. Nương chỉ nghĩ mình không qua khỏi nữa, nên trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, nương đã tìm cho ta người mà người tin là an toàn nhất trần đời này.
Phụ thân của ta.
Thế nhưng nương hẳn không ngờ tới, chuyến đi ấy ta không chỉ tìm được một người cha. Ta còn có thêm bảy vị sư huynh sư tỷ, một vị thái thượng trưởng lão ngoài miệng cứng cỏi nhưng thương người, mười vạn đệ tử tông môn hễ gặp là gọi tiểu sư muội, cùng cả một mái ấm trọn vẹn.
Một năm sau, ta lên bảy tuổi, chính thức bước vào con đường tu luyện.
Ngày đầu tiên, đại sư huynh dạy ta luyện kiếm, huynh ấy bảo: “Bài học đầu tiên của kiếm tu là phải học cách cầm kiếm.” Ta gật đầu, tổ kiếm liền tự động bay ra. Đại sư huynh câm nín.
Ngày thứ hai, tam sư huynh dạy ta trận pháp, huynh ấy bảo: “Điều cốt lõi của trận pháp là học cách tìm trận nhãn.” Ta tùy tiện xếp bảy hòn đá, hộ sơn đại trận bỗng dưng tự kích hoạt. Tam sư huynh cũng câm nín.
Ngày thứ ba, Diệp Minh Châu dạy ta luyện đan, tỷ ấy nghiêm túc dặn dò: “Tuế Tuế, luyện đan quan trọng nhất là phải vững vàng.” Nửa canh giờ sau… Ầm! Đan Phong lại bay mất nửa toà.
Tạ Vô Trần đứng trơ trọi ngoài đống đổ nát, bất động như tượng.
Ta chui ra từ đám khói đen sì: “Cha… Con thấy lần này không thể trách một mình con được đâu… Nhị sư tỷ cũng có phần trách nhiệm mà.”
Diệp Minh Châu: “?!”
Ta thấy cái này gọi là có phúc cùng hưởng có họa cùng chia.
Kể từ đó, Tạ Vô Trần nghiêm cấm Diệp Minh Châu một mình dạy ta luyện đan. Cuộc sống tu tiên của ta cũng chính thức bắt đầu như thế.
Người ta tu tiên là bế quan, luyện kiếm, ngộ đạo. Còn ta tu tiên là hôm nay sang Kiếm Phong, ngày mai qua Đan Phong, ngày mốt cưỡi hạc tiên của tứ sư tỷ đi hái trộm linh quả đại sư huynh trồng. Hễ bị phát hiện là ngũ sư huynh lãnh đủ thay. Vì sao lại là huynh ấy ư? Vì ngũ sư huynh chạy chậm nhất chứ sao.
Về sau, cả cõi Đông Hoang đều biết Thiên Diễn Tông có một tiểu cô nương tuyệt đối không được chọc vào.
Có người bảo ta là Hỗn Nguyên Kiếm Thai, có người bảo ta là truyền nhân cuối cùng của tộc Thủ Giới, lại có kẻ đoán ta mai sau chắc chắn sẽ trở thành thiên hạ đệ nhất kiếm tiên.
Nhưng ta thấy họ nói chẳng chuẩn xác chút nào.
Ta là Tô Tuế Tuế, bảy tuổi, thích nhất là ăn kẹo hoa quế do nương làm.
Cha ta là chưởng môn Thiên Diễn Tông.
Nương ta là Vãn Đường tiên tử ngày trước vô cùng lợi hại, bây giờ vẫn cứ lợi hại như xưa.
Ta có bảy vị sư huynh sư tỷ hết mực cưng chiều ta.
Đại sư huynh miệng bảo tu kiếm phải chịu khổ, nhưng sáng nào cũng lén cho ta ngủ nướng thêm một khắc.
Nhị sư tỷ ngày ngày nghiên cứu cách làm đan dược ngọt như kẹo.
Tam sư huynh gia cố cho tiểu viện của ta hơn chín trăm tầng trận pháp.
Tứ sư tỷ tuyên bố sau này ai dám bắt nạt ta, tỷ ấy sẽ thả mười vạn linh thú ra cắn nát kẻ đó.
Ngũ sư huynh là vô dụng nhất, vì cái gì huynh ấy cũng biết một tí, nên hễ gây họa là ta lại tìm huynh ấy đầu tiên.
Còn về phần cha ta, ông ấy trước sau vẫn khăng khăng bảo mình chẳng hề nuông chiều ta chút nào.
Có một hôm, ông ấy nhịn không được bèn hỏi nương: “Sao bọn họ ai nấy đều chiều chuộng con bé Tuế Tuế quá đà thế nhỉ?”
Nương đang phơi dược thảo ngoài sân, chẳng thèm ngẩng đầu lên: “Chẳng phải học theo chàng cả đấy sao?”
Tạ Vô Trần nhíu mày: “Ta chiều nó hồi nào?”
Tối hôm đó, ta lén chạy tới tìm ông ấy: “Cha.”
“Hửm?”
“Dưới núi có hội hoa đăng đấy cha.”
“Không được.”
“Sao thế ạ?”
“Gần đây không an toàn.”
“Dạ.”
Ta thất vọng toan quay lưng đi. Nửa canh giờ sau, Tạ Vô Trần sai đại sư huynh phong tỏa ba con phố dưới chân núi, bảo tam sư huynh bố trí mười tám đạo phòng ngự trận, lệnh cho tứ sư tỷ dắt theo hai con linh thú cấp Hóa Thần. Cuối cùng, chính ông ấy thay một bộ thường phục giản dị, dắt tay ta xuống núi.
Nương đứng trên cổng sơn môn cười ngặt nghẽo.
Ta ngửa đầu nhìn ông ấy: “Cha, chẳng phải người bảo không đi sao?”
Tạ Vô Trần mặt không đổi sắc: “Ta nói thế bao giờ?”
“Vừa nãy mà.”
“Con nghe nhầm rồi.”
Ta lần đầu tiên phát hiện, đệ nhất kiếm tôn thiên hạ cũng biết giở trò ăn vạ.
Hội hoa đăng lộng lẫy vô cùng, trên phố người đông như mắc cửi. Tay trái ta nắm tay cha, tay phải ta nắm tay nương, bảy vị sư huynh sư tỷ theo sát gót phía sau.
Lúc đi tới bờ sông, thấy có người đang thả đèn Khổng Minh, ta cũng mua một chiếc. Nương hỏi: “Tuế Tuế muốn ước điều gì nào?”
Ta ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nắn nót viết lên mặt đèn một dòng chữ. Mọi người đều tò mò nghé mắt xem trộm, nhưng ta nhất quyết không cho.
Chiếc đèn từ từ bay lên cao, cao mãi, cuối cùng biến thành một đốm sáng nhỏ giữa màn đêm sâu thẳm.
Thực ra, điều ước của ta đơn giản lắm:
Ta mong nương sau này không bao giờ ốm đau nữa.
Mong cha đừng lúc nào cũng cau mày.
Mong đại sư huynh đừng mải luyện kiếm mà quên ăn cơm.
Mong nhị sư tỷ bớt làm nổ tung Đan Phong vài lần.
Mong tam sư huynh đừng lén cài thêm trận pháp vào viện của ta nữa, nếu không nửa đêm ta mò xuống bếp lấy bánh ngọt ăn sẽ khó khăn lắm.
Mong hạc tiên của tứ sư tỷ đừng mổ ta nữa.
Và cả ngũ sư huynh nữa, lần sau cùng ta gây họa, mong huynh ấy chạy nhanh hơn một chút.
Và cuối cùng, ta mong tất cả chúng ta sau này mãi mãi được ở bên nhau.
Ngày trước ta cứ ngỡ, ta chỉ có mỗi mình nương. Về sau nương bảo ta lặn lội ba ngàn dặm đường đi tìm một người nam nhân mà ta chưa từng gặp mặt. Suốt chặng đường ấy ta thực sự rất sợ hãi. Ta sợ ông ấy không nhận ta, sợ người của Thiên Diễn Tông đuổi ta đi, thậm chí sợ mình tìm nhầm chỗ.
Thế nhưng, khi ta thật sự đặt chân lên ngọn núi ấy…
Vị sư huynh đầu tiên nhìn thấy ta không hề xua đuổi, huynh ấy hỏi ta có đói bụng không.
Diệp Minh Châu bế ta lên núi.
Đại sư huynh làm kiếm gỗ cho ta.
Tứ sư tỷ may y phục mới cho ta.
Tam sư huynh thắp pháo hoa cho ta ngắm.
Ngũ sư huynh cùng ta hái trộm linh quả.
Và cả Tạ Vô Trần nữa, lần đầu chải đầu cho ta xấu tệ, vậy mà sau đó đã lén luyện tập suốt một tháng ròng, giờ đã có thể búi cho ta hai búi tóc tròn xoe xinh xắn.
Rất nhiều năm về sau, có người hỏi ta: “Tô Tuế Tuế, bản lĩnh lợi hại nhất của ngươi là gì?”
Bọn họ ngỡ ta sẽ nhắc đến Hỗn Nguyên Kiếm Thai, hay huyết mạch Thủ Giới tộc, hoặc là thanh tổ kiếm sáu ngàn năm trước.
Ta đều lắc đầu, rồi bảo với người đó rằng:
“Bản lĩnh lợi hại nhất của ta, là phía sau lưng ta có rất nhiều người.”
“Ngươi đánh một mình ta, sẽ có cả một bầy xông ra đánh lại ngươi.”
Người nọ ban đầu chẳng tin. Về sau, hắn lỡ tay đẩy ta một cái.
Chưa đầy nửa tuần hương sau, chưởng môn Thiên Diễn Tông giá lâm, thủ tọa thất phong kéo tới, các vị trưởng lão Đan Phong, Kiếm Phong cùng tới tấp xuất hiện, Ngự Thú Phong dắt theo ba ngàn linh thú vây kín, ngay cả thái thượng trưởng lão bế quan hai trăm năm cũng vác kiếm nhảy ra gầm lên:
“Kẻ nào dám đụng vào Tuế Tuế nhà ta?!”
Kẻ đó quỳ rạp dưới đất khóc lóc hồi lâu. Kể từ ngày ấy, chẳng còn ai dám nghi ngờ lời ta nói nữa.
Sau này, ta thật sự đã trở thành đệ nhất kiếm tiên trong thiên hạ. Có người đặc biệt vì ta mà viết nên một cuốn truyền kỳ, câu mở đầu viết rằng:
“Tô Tuế Tuế, trời sinh Hỗn Nguyên Kiếm Thai, bảy tuổi dẫn động vạn kiếm quy tông, mười hai tuổi kết đan, mười sáu tuổi Nguyên Anh, hai mươi ba tuổi vấn đỉnh kiếm đạo.”
Ta xem xong rất không vừa ý, bèn cầm bút gạch bỏ câu đầu tiên đi, nắn nót viết lại rằng:
“Tô Tuế Tuế, năm sáu tuổi, từ trấn Đào Hoa xuất phát, đi bộ ba ngàn dặm để tìm cha.”
Người bên cạnh khó hiểu hỏi: “Kiếm tôn, chuyện đó có gì quan trọng đâu ạ?”
Ta mỉm cười: “Dĩ nhiên là quan trọng chứ.”
Bởi nếu không có ba ngàn dặm đường ấy, ta sẽ chẳng thể nào biết được: Hóa ra nương bảo ta rời đi, không phải để ta mất đi một mái nhà, mà là để ta tìm thấy một gia đình trọn vẹn khác.
Và cũng chính từ ngày hôm ấy, một cô bé con khoác tay nải rách, giày mòn rách đế, trên người chỉ còn lại ba chiếc bánh bao khô khốc, đứng trước cổng đệ nhất tiên môn chốn Đông Hoang, ngửa đầu nghiêm túc nói với hai tên đệ tử giữ cổng rằng:
“Xin chào hai vị ca ca.”
“Ta tới tìm Tạ Vô Trần.”
“Nương ta bảo, người là cha của ta.”
Và thế là, chuỗi ngày thanh tịnh vốn có của cả Thiên Diễn Tông, chính thức kết thúc từ đó.
(Hết truyện)

