Tôi đi ngang qua anh ta, không dừng lại.
Gió thu thổi qua cánh đồng, bông lúa cong lưng.
Nghiệt chướng gieo xuống ở kiếp trước, đến kiếp này ngay cả mầm cũng chưa kịp nhú lên.
Năm 1995.
Tôi ba mươi bốn tuổi.
Phó giáo sư Đại học Sư phạm tỉnh. Nữ giáo sư giáo dục học trẻ tuổi nhất toàn tỉnh.
Năm đó, đề tài cải cách giáo dục cơ sở do tôi chủ trì đã được chính quyền tỉnh tiếp nhận, triển khai trên toàn tỉnh.
Báo tỉnh đến phỏng vấn riêng. Phóng viên hỏi: “Hà giáo sư, bà đã bước lên con đường giáo dục này như thế nào?”
Tôi nghĩ một lát.
“Vì tôi từng thấy cuộc sống không có giáo dục là như thế nào.”
“Một cô gái, nếu không có cơ hội đi học, cả đời cô ấy sẽ bị đóng đinh giữa bếp lò và chuồng heo. Người khác thay cô ấy quyết định lấy ai, thay cô ấy quyết định sống vì ai. Suy nghĩ của chính cô ấy, chẳng đáng một xu.”
“Tôi không muốn để thêm nhiều cô gái phải sống như thế.”
Đoạn này được đăng lên báo.
Báo gửi về thôn Hà Loan, cha tôi nhờ hàng xóm đọc cho ông nghe.
Nghe xong ông chẳng nói gì, chỉ gấp tờ báo thật ngay ngắn, đè dưới gối đầu ở mép giường đất.
Cùng năm đó.
Trần Hà đến tỉnh thành họp——lớp bồi dưỡng giáo viên trung học thị trấn, tổ chức ở lễ đường Đại học Sư phạm tỉnh.
Ở trường của tôi. Trong lễ đường của tôi.
Anh ta ngồi dưới khán đài, tôi đứng trên bục.
Bài báo cáo chính của đại hội: “Nghiên cứu con đường cân bằng hóa nguồn lực giáo dục cơ sở”.
Bài báo cáo dài bốn mươi phút, bảng viết kín ba tấm đen, số liệu đầy đủ, lập luận chặt chẽ.
Dưới khán đài có hơn hai trăm người. Trần Hà ngồi ở hàng thứ mười một, gần cửa sổ.
Sau khi báo cáo kết thúc, một thầy ngồi bên cạnh anh ta——cũng đi ra từ công xã chúng tôi——vỗ vai anh ta.
“Trần Hà, thầy giáo trên sân khấu là ai cậu biết không?”
“Ai?”
“Hà Tuyết Phong. Con gái nhà họ Hà ở thôn Hà Loan. Hồi đó học chung công xã với cậu. Khóa thi đỗ Đại học Sư phạm tỉnh năm 1978, giờ là nữ giáo sư trẻ nhất toàn tỉnh.”
Nghe nói Trần Hà ngẩn ra rất lâu.
“Hà Tuyết Phong?”
“Đúng. Cậu không biết à?”
Anh ta lắc đầu.
“Không biết.”
Không biết.
Kiếp trước, anh ta nói hai chữ này, là đối diện với tôi đang đứng trước cửa nhà anh ta.
Kiếp này, anh ta nói hai chữ này, là đối diện với tôi đang đứng trên bục giảng.
Cũng chỉ hai chữ ấy thôi.
Mà ý nghĩa khác nhau một trời một vực.
Năm 2003.
Cha tôi qua đời.
Bảy mươi mốt tuổi.
Ông đi rất yên lặng. Nằm trên giường đất trong nhà, đắp chăn bông mới tôi mua từ tỉnh thành về.
Trên mép giường đất đặt một chiếc hộp sắt. Mở ra thì thấy bên trong xếp ngay ngắn một xấp giấy chuyển tiền.
Hơn hai mươi năm giấy chuyển tiền, tờ nào cũng không nỡ vứt.
Trên mỗi tờ đều có cùng một hàng chữ——
“Cha, con vẫn ổn.”
Bên cạnh đè một tờ báo, gấp ngay ngắn. Chính là bài phỏng vấn của báo tỉnh năm 1995.
Còn có một mẩu giấy bao thuốc lá.
Trên đó viết xiêu vẹo:
“Con gái, học cho tốt. Cha đợi con về.”
Tôi ngồi trước chiếc hộp sắt đó suốt một đêm.
Không khóc.
Nước mắt đã cạn từ mùa thu năm mười bảy tuổi ấy rồi — vào buổi sáng ông ta nhét mười hai đồng tiền vào tay tôi.
Từ đó về sau, tôi không khóc nữa.
Đám tang rất đơn giản. Cả thôn đều đến.
Hà Thanh Sơn quỳ trước linh vị, khóc rất lớn.
Tôi quỳ bên cạnh, không nói một lời.
Lưu Phượng Hương đã già đến mức không ra hình dạng gì nữa, tóc bạc trắng hết, tai cũng kém, ngồi ngẩn người ở góc linh đường.
Sau khi đám tang kết thúc, tôi đi tìm Hà Thanh Sơn.
“Anh, cha đi rồi. Sau này mẹ sống với ai, anh tự nhìn mà lo. Mỗi tháng em vẫn sẽ gửi tiền tiếp. Nhưng lời em đã nói, sẽ không thay đổi — tiền là đưa cho mẹ, không phải đưa cho anh.”
Hà Thanh Sơn đã hơn bốn mươi tuổi, tiệm sửa xe vẫn mở, không phát tài cũng không phá sản. Một người bình thường.
Anh ta nhìn tôi hồi lâu.
“Tiểu Tuyết Phong…”
“Hả?”

