Nàng ta khóc lóc lắc đầu: “Chuyện sổ sách muội thực sự không biết. Muội muốn gả cho Tri Hành ca ca, cũng chưa từng định hãm hại tỷ.”

“Muốn gả cho Lục Tri Hành, lúc trước muội tự mình đi nói là được.” Ta nhìn nàng ta, “Nhưng muội nghe thấy bọn họ bắt ta phải đi chịu phạt roi, lại không hó hé một chữ nào nói đỡ cho ta. Trâm muội đeo, cửa hàng muội cầm. Bây giờ xảy ra chuyện rồi, lại đến tìm ta, dựa vào cái gì?”

Nàng ta há miệng, nước mắt nhòe nhoẹt trên mặt, rốt cuộc không thốt lên được một câu biện bạch nào.

Cung Nghiên vươn tay múc thêm cho ta một thìa canh hạt sen, giọng điệu bình thản: “Người đâu, tiễn Trình cô nương ra ngoài.”

Lúc bị lôi ra đến cửa, Trình Oản Nhu quay đầu hỏi ta: “Lục Tri Hành bây giờ chịu cưới muội rồi, tỷ tỷ tại sao vẫn không vui?”

Ta nhìn nàng ta: “Ta vui lắm chứ. Các người đúng là xứng đôi vừa lứa.”

Lục gia quả thật có người đến.

Sau khi Lục Tri Hành biết được thân phận của Cung Nghiên, sắc mặt ngày một khó coi. Hắn vốn định mượn đường buôn bán của Trình gia để mưu cầu tiền đồ rộng mở, nay Trình gia sụp đổ, hôn sự giữa hắn và Trình Oản Nhu ngược lại trở thành trò cười của kinh thành.

Hắn chặn trước cửa nhà cũ của Cung gia cầu kiến, ta sai quản gia truyền ra một câu.

“Ngày đó ngươi bắt được tú cầu của ai, thì đi cưới kẻ đó. Đừng làm bẩn ngưỡng cửa nhà ta.”

Cung Nghiên nghe xong, cười vô cùng đắc ý, tối đến còn dặn nấu thêm hai món ta thích ăn.

11.

Vụ án của Trình gia xét xử ròng rã một tháng.

Phụ thân ta bị tước bỏ thương tịch (hộ tịch buôn bán), tịch thu gia sản. Mẫu thân ta vì tham gia chuyển dời tang vật, bị đưa đến am ni cô ngoài thành tu hành thanh tâm. Tội của ca ca không quá nặng, nhưng lại bị tước mất tư cách thi cử, cả đời không được ra làm quan.

Cung Nghiên hỏi ta có muốn đi nhìn bọn họ lần cuối không.

Ta nghĩ ngợi một hồi, rồi cũng đi.

Tờ niêm phong trên cửa Trình gia đã phai màu, cỏ hoang trong sân mọc ngập cả bậc thềm. Mẫu thân ta ngồi trong chính sảnh trống hoác, nhìn thấy ta, trong mắt thoạt tiên lóe lên một tia hy vọng.

“A Hành…”

“Nương.” Ta đứng ngoài bậu cửa, không bước vào, “Con đến lấy lại một món đồ cuối cùng.”

Bà ngơ ngác nhìn ta.

Ta bảo Phùng ma ma mở chiếc rương cũ ra, lấy một bức bình phong thêu mà ngoại tổ mẫu đã cho ta. Trên bình phong thêu cảnh nhạn bay về trên sông xuân, ở góc còn lưu lại một bông hoa nhỏ xíu xiêu vẹo do ta thêu hồi bé.

Mẫu thân ta bỗng khóc nấc lên: “Con hồi bé bám nương nhất. Sao lại đi đến bước đường ngày hôm nay chứ?”

Ta cuộn bức bình phong lại, ngước mắt nhìn bà: “Hồi bé con bị sốt, nương bỏ mặc con một mình ở gian phòng phụ để đi chăm sóc Trình Oản Nhu; con khóc lóc nói với nương rằng Lục Tri Hành bắt nạt con, nương nói hắn chỉ xót thương Oản Nhu thôi; ngày con xuất giá, nương đến một bước cũng không bước ra khỏi cửa.”

“Nương, là nương không cần con trước.”

Bà ôm mặt khóc nức nở.

Ta ôm chặt bức bình phong, xoay người bước ra cửa.

Cung Nghiên che ô đứng đợi ở đầu hẻm. Thấy ta bước ra, chàng vươn tay đỡ lấy bức bình phong, rồi lại nhét chiếc lò sưởi tay vào lòng ta.

“Lạnh không?”

Ta lắc đầu.

Chàng nhìn ta một lúc, bỗng kéo ta vào dưới tán ô. Ô nghiêng hẳn về một bên, quá nửa bờ vai chàng hứng trọn nước mưa.

Ta nhón chân đẩy ô về phía chàng: “Ngốc thế?”

Chàng cười: “Phu nhân bảo ta ngốc, thì ta chính là ngốc.”

Ta vươn tay nhéo má chàng. Chàng cứ để mặc ta nhéo, còn cúi đầu hôn nhẹ lên thái dương ta.

Con hẻm rất dài, mưa rơi trên những phiến đá xanh, bắn lên một màn sương trắng xóa. Chúng ta chậm rãi sóng vai bước đi, không ai ngoái đầu nhìn lại.

12.

Bước sang xuân, chất độc trong người Cung Nghiên đã được thanh lọc triệt để.