Một câu “chỉ xứng gả cho phường đồ tể tính sổ” đã khiến mối lái tốt khắp kinh thành dập tắt ý định dạm hỏi ta.
Nhân duyên của ta, cứ thế bị một câu nói của hắn làm lỡ dở suốt ba năm trời.
Ta hận hắn đến tận xương tủy!
Về phủ liền đem bát tự ngày sinh của hắn viết đầy lên hoàng lịch cũ, ngày ngày lấy kim thêu châm vào!
Cứ ngỡ đời này chẳng còn cơ hội báo mối thù ba lượng năm tiền này nữa.
Ai ngờ ông trời có mắt, chưa đầy nửa năm sau, Chu Minh Chương vướng vào đại án triều đình, bị Hoàng thượng phế truất ngôi vị Đông cung, tống giam vào Tông Nhân Phủ tăm tối không thấy ánh mặt trời.
Ngày nhận được tin, ta mừng rỡ ăn liền một mạch ba bát thịt kho tàu.
Hôm hắn bị áp giải đến Tông Nhân Phủ, ta bịt mặt trà trộn vào đám đông xem náo nhiệt, cố ý chọn một giỏ đầy lá cải thối và trứng ung, nhắm thẳng trán hắn mà ném tới tấp.
Ném xong vẫn thấy chưa hả giận, ta lại mua chuộc lão thái giám chuyên đổ thùng phân ở Tông Nhân Phủ, cứ mỗi dịp trừ tịch lại gửi vào cho hắn một cuốn Đại Chu Cựu Hoàng Lịch do chính tay ta phê chú.
Ba năm đó, bản lĩnh ghi thù chửi bới của ta đạt đến cảnh giới đăng phong tạo cực, tất cả đều cô đọng lại trong ba cuốn hoàng lịch ấy.
Năm thứ nhất, ta gạch bỏ toàn bộ dòng “nghi giá thú, nghi xuất hành” bằng mực đỏ, sửa thành: “Mùng một, nghi Chu Minh Chương ngã gãy chân; rằm, kỵ Chu Minh Chương ăn cơm, nghi húp gió tây bắc. Nợ ta ba lượng năm tiền không trả, chúc ngươi đêm bị chuột gặm ngón chân, ngày uống nước mắc kẽ răng.”
Năm thứ hai, ở khoảng trống mỗi trang ta vẽ hình người nhỏ hắn biến thành con cóc ghẻ bò dưới bùn tranh giành lá rau, phê chú rằng: “Lập xuân, nghi đốt tiền vàng cho Chu Minh Chương; Thanh minh, hỏi tên nợ đòi mạng này đã chết chưa, chết rồi thì gõ bát một tiếng, chưa chết thì sủa hai tiếng chó.”
Năm thứ ba, ta đem ba lượng năm tiền tính lãi mẹ đẻ lãi con theo kiểu vay chín trả mười ba, viết càng độc địa hơn: “Trừ tịch, Chu Minh Chương sống thì tốn gạo, chết thì chật đất, Diêm Vương nhìn thấy cũng chê xú quẩy. Nếu dám chết mục xương trong đó để quỵ nợ, ta sẽ mua mười gánh phân tưới lên đầu mồ ngươi!”
Từng chữ ngậm độc, từng trang đòi mạng.
Nơi như Tông Nhân Phủ, hoàng tử bị tống vào mười người thì tám chín kẻ phát điên hoặc ốm chết.
Ta đinh ninh Chu Minh Chương đời này đừng hòng bước chân ra ngoài.
Ngờ đâu Hoàng thượng lại tra rõ án oan năm xưa, chẳng những thả hắn ra mà còn phục hồi ngôi vị Thái tử cho hắn.
May thay, lúc gửi hoàng lịch ta chưa từng ký tên.
Hắn chỉ có thể lần theo thứ mực chu sa kim nhũ đặc chế mà tra ra Mạnh gia chúng ta.
Vừa nãy cái liếc mắt của hắn rõ ràng chẳng mảy may nghi ngờ tới cái cọc gỗ ngơ ngác là ta.
Sau khi Chu Minh Chương vừa rời đi, a tỷ liền vui sướng xoay tròn mấy vòng giữa sảnh.
Nương lại hồi tâm nghĩ ngợi, ngờ vực kéo tay nàng: “Lan Dược, con lén gửi hoàng lịch cho Thái tử từ bao giờ? Sao ta chẳng hay biết gì hết?”
Ánh mắt a tỷ lóe lên một thoáng, rũ mi đáp: “Con lén nương gửi đấy ạ. Nếu để phụ mẫu hay biết, nhất định không cho con dính líu đến phế thái tử. Nương, nay điện hạ đã phục vị, còn muốn xin Hoàng hậu nương nương ban hôn cho con, nương đừng trách con tự tiện chủ trương nữa.”
Nương chuyển âu thành mừng, hờn dỗi dí nhẹ đầu ngón tay vào mũi nàng: “Nha đầu này, gan to thật đấy! Cũng may Thái tử trở mình, bằng không danh tiết trong sạch của con còn giữ được sao?”
A tỷ ôm cánh tay nương nũng nịu cười.
Đợi nương hớn hở chạy ra tiền viện báo tin cho cha, ta nuốt nốt miếng bánh đậu xanh cuối cùng trên đĩa, phủi tay toan về viện của mình.
“Đứng lại.”
A tỷ bỗng lạnh giọng gọi giật lại.
Ta xoay người, thành thành thật thật cất tiếng: “A tỷ?”
Nàng bước tới trước mặt ta, hạ giọng gặng hỏi: “A Châu, người gửi hoàng lịch cho Thái tử có phải là muội không?”
Ta ngơ ngác chớp chớp mắt: “A? Ban nãy chẳng phải a tỷ đã nhận rồi sao, sao lại là muội được?”
Nàng bán tín bán nghi đánh giá ta một lượt: “Thật sự không phải muội? Ban nãy trang Thái tử lật ra, trên đó viết cái gì mà quỷ đoản mệnh, mở tiệc khóc tang?”
“Muội nào có biết đâu.” Ta sợ sệt rụt cổ lại, “A tỷ, muội đến mặt chữ còn chưa nhận hết mấy chữ, ngày thường đến mặt mũi điện hạ còn chẳng thấy được, cớ sao phải gửi hoàng lịch cho ngài ấy?”
A tỷ nhíu mày suy nghĩ chốc lát, ước chừng cũng thấy ta không có lá gan ấy, sắc mặt dịu lại: “Cho dù thật sự là muội gửi, nay điện hạ đã nhận định là ta, muội hãy ngậm chặt miệng lại cho ta. A Châu, ta là tỷ tỷ ruột của muội, tính tình muội đần độn cứng nhắc, vốn chẳng gánh nổi ngôi vị Thái tử phi, tự lòng muội phải hiểu rõ chứ?”
“Ba năm trước muội thắng được noãn ngọc bội của điện hạ, điện hạ trước mặt bàn dân thiên hạ đã cự tuyệt muội, nói muội nồng nặc mùi đồng tanh.”
Ta ngoan ngoãn rũ mi: “Muội biết rồi, a tỷ.”
Nàng hài lòng ngẩng cao cằm: “Nương đang xem mối cho muội rồi đấy. Phú quý không thuộc về mình thì chớ có dấy lòng tà niệm.”
Ta thầm đảo mắt một cái.
Ai thèm tơ tưởng đến cái tên quỵ nợ Chu Minh Chương đó chứ?
Hắn tuy mang một bộ da túi tuấn tú, là vị Trữ quân mà khắp kinh thành quý nữ khóc lóc đòi gả, người đời ai nấy đều khen hắn quang phong ký nguyệt, thanh chính đoan phương.
Thế nhưng từ cái ngày ba năm trước hắn quất gãy đòn cân của ta, hại ta đền ba lượng năm tiền bạc lại còn lỡ dở duyên phận, thì trong mắt ta, hắn còn chẳng đáng giá bằng một con lừa kéo cối xay.
Đêm xuống, ý chỉ ban hôn trong cung quả nhiên hạ xuống thật.
Chẳng biết trong đầu Chu Minh Chương chứa bã đậu hay gì.
Bị người ta chỉ thẳng mũi mắng chửi ròng rã suốt ba năm trời, vậy mà còn vội vã muốn rước người đó về Đông cung cung phụng như tổ tông.
Thứ phúc khí của Đông cung này, thôi thì cứ để a tỷ một mình từ từ hưởng thụ đi vậy.
3
Sáng hôm sau, nương đã ôm một chồng họa quyển bà mối đưa tới, đặt đánh cộp lên bàn trong phòng ta, lật từng trang cho ta xem.
“A tỷ ngươi nay đã là chuẩn Thái tử phi, hôn sự của ngươi cũng phải mau chóng định đoạt. Tính ngươi vụng miệng vụng lời, chẳng làm nổi đương gia chủ mẫu của hào môn thế gia đâu, nương đã chọn cho ngươi một mối vô cùng môn đăng hộ đối.”
Bà lật tới một trang, chỉ vào người thanh niên cẩm y vẽ trên đó: “Phủ Tĩnh Bắc Hầu vừa từ Bắc Cương về kinh thuật chức. Vị Thôi Mục Dã này là nhị công tử của Hầu phủ, tuy không như đại ca Thôi Trường Minh có thể tập tước chưởng binh, nhưng dưới tay quản lý ba đại mục trường do hoàng gia ban thưởng và hơn mười điền trang ở Giang Nam, trong nhà vàng bạc chất cao như núi.”
Ta ghé lại nhìn bức họa.
Người trên tranh mày kiếm xếch vào tóc mai, sống mũi cao thẳng, đôi mắt sáng như hắc diệu thạch ngâm trong nước, khóe môi còn vương ba phần tiếu ý lười nhác.
Nhìn chẳng giống kẻ phàm phu tục tử quản lý điền trang mục trường, trái lại trông như một thiếu niên tướng quân áo gấm ngựa hoa.
Nương thấy ta không lên tiếng, lại vội bồi thêm một câu: “Thôi thế tử bao che khuyết điểm nhất mực, từ nhỏ đã cưng chiều đệ đệ này như tròng con mắt. Tính tình Hầu phu nhân cũng từ hòa, đã sớm đánh tiếng rằng nhị phòng sau khi thành thân sẽ ở riêng một viện, một không cần ngươi sớm tối thỉnh an hầu hạ mẹ chồng, hai không cần ngươi quản gia chép sổ sách. Lại thêm a tỷ ngươi sau này là Thái tử phi, Thôi gia tuyệt đối không dám xem thường ngươi.”
Ta mân mê chuỗi hạt tính trong tay, ngẩng đầu hỏi thẳng: “Quản mục trường điền trang con không ngại, nhiều tiền là được. Nhưng điều kiện tốt nhường này, sao lại rơi trúng đầu con?”

