Tôi nhìn gương mặt đã gầy rộc đi, hốc má hõm sâu của anh:

“Thẩm Dục Xuyên, sau này bất kể anh có gặp phải chuyện gì đi chăng nữa, hãy nhớ lấy một điều: Điều anh nợ vợ mình không phải là một câu xin lỗi, mà là anh chưa bao giờ coi cô ấy là người cùng đứng chung một chiến tuyến với mình.”

“Anh nhớ rồi.”

“Tôi đi đây.”

Tôi bế con, dứt khoát quay người bước đi.

—

Tối hôm đó tôi không về ký túc xá mà dắt con về quê ngoại ở Đường Gia Tập.

Mẹ thấy tôi về thì sững sờ một lúc, rồi ánh mắt bà dừng lại ở cuốn sổ chứng nhận ly hôn đang lấp ló trong túi xách của tôi. Bà đứng chết trân bên cạnh bếp lò, chiếc xẻng xào thức ăn trên tay còn đang nhỏ từng giọt dầu, cứ thế cúi đầu nhìn trân trân hồi lâu. Bìa màu đỏ của cuốn sổ lộ ra một góc, dưới ánh đèn dầu vàng vọt trông chói mắt đến lạ kỳ.

Bà không nói câu nào, lẳng lặng đặt chiếc xẻng vào lại trong chảo, quay người mở chạn bát lấy ra hai chiếc bát, xới cơm đầy ắp mang lên. Một bát đặt trước mặt tôi, một bát đặt trước mặt con trai. Cơm được xới vun ngọn, bên trên còn gắp đè lên hai miếng thịt kho tàu to đượm màu, hệt như cái hồi tôi chưa đi lấy chồng mỗi lần về nhà ăn cơm mẹ vẫn thường làm.

Bố ngồi ở đầu bàn bên kia cắm cúi ăn cơm. Đũa của ông gảy gảy vài hạt cơm trong bát, rồi gắp một miếng rau xanh bỏ vào bát cháu ngoại, sau đó lại cắm đầu và cơm.

Ăn được một nửa, ông bỗng đặt mạnh bát cơm xuống bàn, đứng dậy đi thẳng vào phòng trong.

Cánh cửa khép hờ, tôi nhìn thấy ông ngồi quay lưng ra cửa ở mép giường, hai bờ vai run lên bần bật từng cơn. Bàn tay ông nắm chặt lấy chiếc khăn quàng đỏ mà hồi tôi học tiểu học ông đã mua cho tôi, nắm chặt đến mức các khớp ngón tay đều trắng bệch.

Con trai ngửa đầu nhìn cánh cửa phòng trong, rồi lại nhìn tôi, bàn tay nhỏ túm lấy tay áo mẹ:

“Mẹ ơi, ông ngoại bị làm sao thế ạ?”

Tôi khẽ xoa đầu con:

“Mắt ông ngoại bị bụi bay vào thôi con.”

Đêm đó, sau khi dỗ con ngủ say, tôi một mình ra ngồi trên bậc cửa ngoài sân ngắm trăng.

Cây táo trồng trong sân vẫn còn đó, trên chạc cây vẫn in hằn vết dây thừng mòn vẹt do hồi bé tôi hay buộc đu quay chơi đùa. Ánh trăng bàng bạc rải đầy trên những phiến đá xanh trong sân, mờ ảo như vừa phủ một lớp sương mỏng.

Nhà bác Lưu bên cạnh đang bật đài bán dẫn nghe kịch Bình kịch, tiếng hát từ bờ tường vọng sang lúc gần lúc xa, đang hát đến đoạn “Báo hoa danh” trong vở *Hoa vi môi*.

Tôi ngồi ở đó, trong đầu không hề nghĩ đến Thẩm Dục Xuyên, cũng chẳng buồn nhớ lại những chuyện thị phi ở khu tập thể quân đội nữa. Tôi chỉ thầm tính toán sáng mai phải dậy thật sớm ra chợ mua hai dẻ sườn heo ngon về hầm một nồi canh bổ dưỡng cho con trai. Thằng bé theo tôi ăn cơm tập thể ở xưởng dệt suốt nửa tháng qua, cằm đã nhọn hoắt đi cả rồi.

—

Ngày Thẩm Dục Xuyên rời đi, tôi hoàn toàn không hay biết.

Đến khi tôi biết chuyện thì trên mặt báo đã đưa tin rầm rộ: Biên giới Tây Nam xảy ra chiến sự căng thẳng, các đơn vị tăng viện khẩn cấp lên đường xuất quân.

Tiểu đoàn trưởng Phương gọi liền ba cuộc điện thoại đến văn phòng xưởng dệt, Giám đốc Chung chuyển lời lại cho tôi.

Sau khi tan ca, tôi gọi một cuộc điện thoại về ban chỉ huy trung đoàn, là Chính ủy Tần nghe máy.

Ông bảo là do chính Thẩm Dục Xuyên chủ động làm đơn xin đi. Ban chỉ huy trung đoàn vốn dĩ không đồng ý, đã ém lá đơn xin chuyển công tác của anh suốt hai tuần lễ, nhưng trung đoàn biên phòng bên phía Tây Nam vừa vặn đang thiếu một trung đoàn trưởng, anh đã kiên quyết tự nguyện xin điều động sang đó.

Quyết định điều động đã có từ ba ngày trước. Anh không chào tạm biệt bất kỳ ai, chỉ để lại toàn bộ số tiền tiết kiệm cùng một lá thư gửi cho hai mẹ con tôi.

Lá thư được Chính ủy Tần chuyển phát nhanh đến xưởng dệt cho tôi.